Thứ Ba, ngày 28 tháng 4 năm 2009

Nhạc Sĩ Đặng Thế Phong





Tên thật Đặng Thế Phong

Ngày sinh 1918 tại Thành phố Nam Định

Ngày mất 1942 tại Thành phố Nam Định

Nghề nghiệp Nhạc sĩ, họa sĩ

Thể loại Nhạc tiền chiến

Tác phẩm nổi tiếng Đêm thu, Con thuyền không bến, Giọt mưa thu


Đặng Thế Phong (1918 – 1942) là nhạc sĩ thuộc thế hệ tiên phong của tân nhạc Việt Nam, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho giai đoạn âm nhạc tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi và chỉ để lại ba nhạc phẩm: Đêm thu, Con thuyền không bếnGiọt mưa thu.

Mục lục

Tiểu sử

Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Cha ông là Đặng Hiển Thế, thông phán Sở Trước bạ Nam Định.

Vì cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure) tại trường trung học Saint Thomas d'Aquin. Ông lên Hà Nội vẽ cho một số tờ báo và học với tư cách dự thính tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Ecole supérieure de Beaux Arts) tới năm 1939. Thời gian ông học ở đây đã để lại một giai thoại. Trong một kỳ thi, Đặng Thế Phong vẽ bức tranh cảnh một thân cây cụt. Giáo sư, họa sĩ người Pháp Tardieu chấm bài, khen ngợi nhưng nói rằng: E Đặng Thế Phong sẽ không sống lâu được!

Cuộc đời Đặng Thế Phong rất long đong, lận đận. Ông phải sống lang bạt và trải qua nhiều nghề. Tháng 2 năm 1941, Đặng Thế Phong lang thang vào Sài Gòn rồi sang Campuchia. Tại Nam Vang, ông có mở một lớp dạy nhạc và đến tháng 8 năm 1941 ông trở lại Hà Nội.


Sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong chỉ có ba nhạc phẩm và đều rất nổi tiếng là: Đêm thu ca khúc viết cho lửa trại của học sinh Hà Nội 1940, Con thuyền không bến hoàn chỉnh tại Nam Vang, trình diễn lần đầu tại rạp Olympia, Hà Nội năm 1941 và Giọt mưa thu 1942. Nhạc phẩm cuối cùng Giọt mưa thu được ông viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh. Ban đầu bản nhạc mang tên Vạn cổ sầu, nhưng theo ý một vài người bạn, ông đặt lại là Giọt mưa thu cho bớt sầu thảm hơn.

Cả ba ca khúc của ông đều viết về mùa thu và hai trong số đó Con thuyền không bếnGiọt mưa thu được xếp vào những tác phẩm bất hủ của tân nhạc Việt Nam. Giọt mưa thu cũng là cảm hứng cho nhạc sĩ Hoàng Dương sáng tác bài Tiếc thu nổi tiếng. Nhiều ý kiến cho rằng Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng bởi Giọt mưa thu khi viết ca khúc đầu tay Ướt mi.

Nhận xét của Phạm Duy, các sáng tác của Đặng Thế Phong là những bài hát khởi đầu cho dòng "nhạc thu" Việt Nam, được tiếp nối xuất sắc bởi Văn CaoĐoàn Chuẩn. Theo Doãn Mẫn, Đặng Thế Phong và Lê Thương là hai nhạc sĩ tiền chiến có sáng tác sâu đậm hồn dân tộc nhất: "Đặng Thế Phong là người hết sức tài hoa. Anh chơi được rất nhiều nhạc cụ. Anh sáng tác Giọt mưa thu, Con thuyền không bến từ khi còn rất trẻ. Đáng tiếc, anh mất quá sớm. Có thể nói sự ra đi của anh là một tổn thất lớn đối với bạn bè và cho cả những người yêu mến âm nhạc Việt Nam."

Đặng Thế Phong được xem như một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của thời kỳ tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi vì bệnh lao trên một căn gác số 9 phố Hàng Đồng, Nam Định năm 1942.

Tham khảo


Tiểu sử của Đặng Thế Phong in trong ấn bản Con thuyền không bến do nhà xuất bản Tinh Hoa phát hành tại Sài Gòn vào năm 1964:

Đặng Thế Phong sinh năm 1918, thứ nam của cụ Đặng Hiển Thể, thông phán Sở Trước Bạ thành phố Nam Định, là con thứ hai của một gia đình có sáu anh em, hai trai bốn gái. Thân phụ mất sớm, gia đình thiếu thốn, ông phải bỏ dở học vấn khi đang học lớp 2ème année P.S. Ông có lên Hà Nội theo học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật với tư cách bàng thính viên. Ông vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ bút là Phạm Cao Củng) như truyện bằng tranh Hoàng Tử Sọ Dừa, Giặc Cờ Đen để lấy tiền ăn học. Mùa xuân năm 1941 ông có đi Sài Gòn rồi Nam Vang. Ở Nam Vang ông có mở một lớp dạy nhạc. Đến mùa thu 1941 ông lại trở về Hà Nội. Lúc sinh thời Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo nên cuộc sống của ông thật là khổ cực, chật vật. Ngoài tài sáng tác, ông còn là một ca sỹ, tuy chưa hẳn được là ténor nhưng giọng hát khá cao, đã nhiều lần ra sân khấu mà lần đầu tiên ông hát bài Con thuyền không bến tại rạp chiếu bóng Olympia, phố Hàng Da Hà Nội năm 1940. Đến đầu 1942 thì ông từ giã cõi đời tại nhà, trên một căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng vì bệnh lao, hưởng dương 24 tuổi.

Những sáng tác khác

  • Theo Phạm Duy thì Đặng Thế Phong có sáng tác một ca khúc nữa là Sáng rừng.
  • Trong một bài viết của nhạc sĩ Trương Quang Lục thì Đặng Thế Phong có những sáng tác: Con thuyền không bến, Giọt mưa thu, Đêm thu, Sáng trăng, Sáng trong rừng, Sầm sơn...
  • Báo Tiền phong số ra ngày 11 tháng 1 năm 2006 đăng tư liệu về một nhạc phẩm mới tìm thấy của ông: Gắng bước lên chùa, lời của nhà văn trinh thám Phạm Cao Củng.

Liên kết ngoài

Ba ca khúc của Đặng Thế Phong

Đêm thu | Con thuyền không bến | Giọt mưa thu

Theo http://vi.wikipedia.org

Thứ Hai, ngày 19 tháng 1 năm 2009

Ca Sĩ Thái Thanh








Thái Thanh (1934-) là một ca sĩ Việt Nam nổi tiếng, được mệnh danh "tiếng hát vượt thời gian". Thành danh ở miền Nam từ cuối thập niên 1950, gắn liền với nhạc của Phạm Duy và nhiều ca khúc tiền chiến khác, Thái Thanh đã tạo ra một "trường phái" riêng, ảnh hưởng tới nhiều giọng ca thế hệ sau như Mai Hương, Quỳnh Giao, Ánh Tuyết... Bà được xem như một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của tân nhạc Việt Nam.

Mục lục

Tiểu sử

Thái Thanh, tên thật Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, thân phụ của bà là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy; con trai thứ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương, tức ca sĩ Hoài Bắc; và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh.

Thái Thanh bắt đầu sự nghiệp ca hát khi mới 13, 14 tuổi trong những năm kháng chiến chống Pháp. Năm 1951, Thái Thanh cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn. Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ thập niên 1950 cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Phạm Duy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng. Giọng ca Thái Thanh cũng từng gắn bó với vũ trường Đêm Mầu Hồng vào những năm đầu 1970.

Tiếng hát Thái Thanh gắn liền với nhạc Phạm Duy. Thái Thanh cũng là giọng ca hàng đầu của dòng nhạc tiền chiến, bà đã gây nên những ảnh hưởng tới nhiều ca sĩ của dòng nhạc này như Mai Hương, Ánh Tuyết...

Thái Thanh lập gia đình với tài tử Lê Quỳnh vào khoảng giữa thập niên 1950, nhưng hai người đã chính thức ly dị khi người con gái đầu lòng là ca sĩ Ý Lan mới được 8 tuổi. Năm 1985 Thái Thanh rời Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ. Tại hải ngoại bà tiếp tục trình diễn (bắt đầu từ đêm diễn Thái Thanh - Đêm Tái Ngộ năm 1986) và ghi âm một số CD với Trung tâm Diễm Xưa. Hai con gái của bà Ý LanQuỳnh Hương cũng là những ca sĩ nổi tiếng. Thái Thanh từ bỏ sự nghiệp ca hát năm 1999 ở tuổi 65.

Băng nhạc, CD Thái Thanh

Trước 1975

Từ khoảng cuối thập niên 1950 đến 1975, Thái Thanh thâu âm rất nhiều trên đĩa than 78 vòng, đĩa nhựa 45 vòng, băng Akai của các hãng đĩa Việt Nam, Tân Thanh, Sơn Ca, Shotguns, Thanh Thúy, Phạm Mạnh Cương, Trường Sơn, Continental, Diễm Ca, Song Ngọc, Nhật Trường, Trường Hải, Nghệ Thuật - Tâm Anh...

  • 01. Băng nhạc Thanh Thúy 7: Tiếng Hát Thái Thanh
  • 02. Chương trình Nhạc Tuyển Selection 1: Tiếng Hát Thái Thanh
  • 03. Sơn Ca 10: Tiếng hát Thái Thanh và Ban hợp ca Thăng Long (1975)
  • 04. Tơ Vàng 4: Thái Thanh - Tiếng Hát Vượt Thời Gian (1971)
  • 05. Tiếng hát Thái Thanh 2
  • 06. Tiếng hát Thái Thanh 3
  • 07. Băng nhạc Mười bài đạo ca (1972)

Phát hành sau 1975

  • 08. Thái Thanh - Phạm Duy (1976)
  • 09. Shotguns 10: Tiếng hát Thái Thanh (1980)
  • 10. Dạ Tâm Khúc: Tiếng hát Thái Thanh

Không kể những CD sưu tập bởi Trung tâm Hương Xưa

Sau 1975

Thu âm từ 1985 đến 2003

  • 11. Ngày xưa Hoàng Thị (1986)
  • 12. Quê hương và kỷ niệm (1987)
  • 13. Đêm màu hồng (1988). Thái Thanh, Ý Lan, Thanh Loan, Quỳnh Hương, Lê Đại
  • 14. Chiều về trên sông (1988)
  • 15. Đêm nhớ trăng Sài Gòn (1990)
  • 16. Hội trùng dương (1993)
  • 17. Dòng thời gian - Thái Thanh và 3 thế hệ (2004)
Theo http:// vi.wikipedia.org

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2009

Ca Sĩ Duy Trác

Duy Trác tên thật Khuất Duy Trác, là một ca sĩ nổi tiếng, thành danh ở Sài Gòn từ những năm trước 1975. Tuy chỉ là một ca sĩ nghiệp dư, nhưng nhiều người xem Duy Trác như một trong những giọng ca nam lớn nhất của tân nhạc Việt Nam.

Mục lục

1. Sự nghiệp

Duy Trác quê ở Sơn Tây, xuất thân trong một gia đình Nho giáo truyền thống. Nghề nghiệp chính của ông là luật sư, theo một vài tài liệu thì ông còn là thẩm phán. Ngoài ra ông còn tham gia viết báo và cũng là một dịch giả. Duy Trác bắt đầu đi hát từ những năm còn là sinh viên, khoảnh cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960 nhờ sự giới thiệu của ca sĩ Quách Đàm với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Tuy giọng ca của ông được rất nhiều người mến mộ, nhưng trước 1975 ở Sài Gòn, Duy Trác gần như không bao giờ trình diễn ở phòng trà hay các chương trình nhạc hội. Ông chỉ hát trên đài phát thanh và thu âm cho các hãng băng đĩa, vì vậy nhà văn Duyên Anh đã đặt cho ông biệt danh "chàng ca sĩ cấm cung". Duy Trác cũng có sáng tác một vài bài hát như Tiếng hát đêm Noel, Sài Gòn chỉ vui khi các anh về...

Sau này giọng hát ông được thâu âm rải rác trong các chương trình Shotguns, Phạm Mạnh Cương, băng nhạc Tứ Quí với Lệ Thu, băng Tình Ca với Khánh Ly, trong băng nhạc Tình Khúc Ngô Thụy Miên, ông đặc biệt nổi tiếng với bản nhạc Áo Lụa Hà Đông để nhắc đên Áo Lụa Hà Đông là người ta phải nhớ đến giọng ca Duy Trác.

Sau 1975, Duy Trác có đi trại tù cải tạo nhiều năm tới 1988. Năm 1992 ông rời Việt Nam định cư tại Houston, Hoa Kỳ. Tại đây ông có tham gia trình diễn ở một vài chường trình ca nhạc và phát hành hai CD riêng Còn tiếng hát gửi ngườiGiã từ. Trong CD Giã từ ông đã nói lời từ biệt với âm nhạc. Từ đó Duy Trác không còn hát và hiện nay ông hợp tác với đài phát thanh VOVN - Tiếng nói Việt Nam tại Houston phụ trách một vài chương trình.

Vào năm 1995 khán thính giả khắp nơi hụt hẫng, buồn bã đón nhận tin ông "giã từ âm nhạc". Trả lời một người bạn văn thân thiết, ông bảo rằng vì lý do công việc cơm áo bận rộn quá làm ông không có thì giờ nghĩ đến âm nhạc nữa. Và qua một buổi phỏng vấn âm nhạc với nhạc sĩ Thanh Trang trên đài VOVN, phát thanh ở Houston mà ông đang cộng tác, ông có "thổ lộ" như sau:

".....Vâng thì dĩ nhiên đời sống thay đổi, hoàn cảnh sống thay đổi thì âm nhạc phải thay đổi, cái tình yêu nó cũng phải thay đổi, cái cách bày tỏ tình yêu nó cũng phải thay đổi . Vậy kết luận về âm nhạc tiền chiến mà anh thích thì tôi cũng đồng ý thôi, bởi vì đó là sự dịu dàng, đó là thơ, ngay cả thơ nói về hạnh phúc hay nói về sự bất hạnh chứ nó không phải là một chất rượu nó không phải là lừa, nó không phải là sự nồng nàn như là âm nhạc bây giờ ....thì dĩ nhiên là khi những bài nhạc tiền chiến ngày xưa chúng mình nghe, rồi mình hát, mình thích bởi vì nó cũng đính kèm theo một chuỗi những cái kỷ niệm, kỷ niệm là chính. Bây giờ thì tuổi trẻ họ đã có đời sống khác, họ có những kỷ niệm khác, và họ thích bày tỏ tình yêu khác, cách yêu đương nó khác, do đó tôi nghĩ rằng là hát tình ca cũng phải khác đi ....

Thế thành ra bây giờ có cái điều mà bây giờ tôi mới dịp nói ra là cái lúc mà tôi ngưng hát đó, thì tôi bị vướng vào một sự lúng túng một sự luẩn quẩn là nhạc tiền chiến, đối với riêng cá nhân tôi, tôi thấy nó không còn thích hợp nữa, bởi đời sống nó đã thay đổi quá nhiều rồi, mà nhạc mới của các anh em trẻ ở đây, những người trẻ ở đây thì tôi chưa thấm được, nên tôi không biết hát cái gì, không biết hát cái gì thành thử tôi phải thôi" .

2. Băng nhạc và CD Duy Trác

1970 - 1975

  • Tiếng hát Duy Trác

Mặt A:

  1. Ngày đó chúng mình (Phạm Duy)
  2. Một lần cuối (Nguyễn Bính - Văn Phụng)
  3. Tôi sẽ đưa em về (Y Vân)
  4. Hương xưa (Cung Tiến)
  5. Ngày chưa nguôi yêu dấu (Trầm Tử Thiêng)
  6. Múc anh trăng vàng (Hoàng Thi Thơ)
  7. Cơn mê chiều (Nguyễn Minh Khôi)
  8. Thu trên đảo Kinh Châu (Lê Thương)
  9. Đợi chờ (Nhật Bằng - Phạm Đình Chương)
  10. Chiều tưởng nhớ (Thẩm Oánh)

Mặt B:

  1. Tương tư 2 (Mặc Thế Nhân)
  2. Đường em đi (Phạm Duy)
  3. Lá đổ muôn chiều (Đoàn Chuẩn - Từ Linh)
  4. Trương Chi (Văn Cao)
  5. Cô láng giềng (Hoàng Quý)
  6. Cây đàn bỏ quên (Phạm Duy)
  7. Bóng chiều xưa (Minh Trang - Dương Thiệu Tước)
  8. Con thuyền xa bến (Lưu Bách Thụ)
  9. Nhạc chiều (Doãn Mẫn)
  10. Hướng về Hà Nội (Hoàng Dương)
  • Tiếng hát Duy Trác 2

Mặt A:

  1. Thuở ban đầu (Phạm Đình Chương)
  2. Dạ tương sầu (Nhật Bằng)
  3. Du mục (Trịnh Công Sơn)
  4. Đường em đi (Phạm Duy)
  5. Người nghệ sĩ mù (Hoàng Thi Thơ)
  6. Nhớ quê hương (Phạm Ngữ)
  7. Đôi chim giang hồ (Ngọc Bích) Duy Trác & Sĩ Phú
  8. Thuở trăng về (Ngọc Bích)
  9. Một ngày vui mùa đông (Lê Uyên Phương) Duy Trác & Khánh Ly
  • Tiếng hát Duy Trác
  1. Áo lụa Hà Đông (Ngô Thụy Miên - Nguyên Sa)
  2. Tiếng chuông chiều thu (Tô Vũ)
  3. Tình khúc buồn (Ngô Thụy Miên) (Duy Quang hát)
  4. Con chim lạc bạn (Phạm Văn Chừng)
  5. Mắt biếc (Ngô Thụy Miên)
  6. Thu trên đảo Kinh Châu (Lê Thương)
  7. Cơn mê chiều (Nguyễn Minh Khôi)
  8. Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương - Quang Dũng)
  9. Ngày đó chúng mình (Phạm Duy)

Sau 1975

CD Còn tiếng hát gửi người

CD Còn tiếng hát gửi người

  • Còn tiếng hát gửi người

Thúy Nga Productions phát hành tại Hoa Kỳ năm 1993

  1. Mộng dưới hoa (Đinh Hùng - Phạm Đình Chương)
  2. Áo lụa Hà Đông (Nguyên Sa – Ngô Thụy Miên)
  3. Còn tiếng hát gửi người (Trần Quang Lộc)
  4. Thuở ban đầu (Phạm Đình Chương)
  5. Tạ từ (Tô Vũ)
  6. Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương - Quang Dũng)
  7. Một cõi đi về (Trịnh Công Sơn)
  8. Bay đi cánh chim biển (Đức Huy)
  9. K khúc của Lê (Đăng Khánh - Du Tử Lê)
  10. Nghìn trùng xa cách (Phạm Duy)
  • Giã từ

Diễm Xưa Productions phát hành tại Hoa Kỳ năm 1995

  1. Đường về miền Bắc (Đoàn Chuẩn)
  2. Mắt buồn (Phạm Đình Chương - Lưu Trọng Lư)
  3. Đừng lừa dối nhau (Y Vân)
  4. Từ một giấc mơ (Mai Anh Việt)
  5. Tơ sầu (Lâm Tuyền)
  6. Biệt ly (Doãn Mẫn)
  7. Dạ tâm khúc (Phạm Đình Chương - Thanh Tâm Tuyền)
  8. Cô láng giềng (Hoàng Quý)
  9. Yêu dáng em xưa (Đăng Khánh)
  10. Đẹp giấc mơ hoa (Hoàng Trọng)
  11. Dạ khúc (Nguyễn Mỹ Ca)
  12. Hương xưa (Cung Tiến)
Theo http:// vi.wikipedia.org

Thứ Ba, ngày 13 tháng 1 năm 2009

Nhạc Sĩ Phạm Duy

Tiểu Sử:

Phạm Duy sinh tại Hà Nội năm 1921, theo học các Trường Trung Học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành, tự học nhạc và đi huấn nghệ tại Pháp trong hai năm 1954-1955, học trò của Robert Lopez và bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris.

Khởi sự đời nhạc của mình là một ca sĩ trong gánh hát Ðức Huy, đi hát lưu động trong những năm 1943-1945. Rồi trở thành cán bộ văn nghệ trong cuộc Kháng Chiến chống Pháp. Vào sinh sống tại miền Nam một vài năm trước khi đất nước bị phân chia, trong suốt hơn 20 năm, Phạm Duy là người phản ảnh đầy đủ mọi khía cạnh đời sống tình cảm của người dân trong nước.

Phạm Duy chia sự nghiệp của mình ra nhiều giai đoạn :

* Khởi đi từ dân ca, ghi lại hình ảnh người dân Việt Nam trong thời đấu tranh giành độc lập rồi tại trường ca là liên khúc của nhiều bài dân ca, nói lên sự vĩ đại của dân tộc Việt.

* Sau đó là tâm ca, những bài ca thức tỉnh lương tâm, phản đối bạo lực và lòng phi nhân.

* Tại đạo ca, mang tính chất thiền ca, là những bài hát đi tìm sự thật.

* Rồi tại tục ca, những bài hát tiếu lâm nói thẳng vào cuộc đời đầy rẫy ngụy thiện.

* Tại bé ca, nữ ca và bình ca là những khúc hoan ca.

* Chưa kể những tình khúc mà suốt 40 năm qua, nghĩa là trải qua ba thế hệ, bất cứ đôi tình nhân Việt Nam nào cũng đều hát tới và sẽ nhớ mãi.

Sau biến cố tháng Tư năm 1975, Phạm Duy và gia đình di cư qua Hoa Kỳ, cư ngụ tại Midway City, California, tiếp tục hành nghề hát rong và thường xuyên có mặt tại khắp nơi trên thế giới để hát những bài thuộc loại mới là tị nạn ca, ngục ca và hoàng cầm ca.

Từ mùa Xuân 1988, với sự hợp tác của con trai Duy Cường, Phạm Duy chuyển hướng từ nhạc đơn điệu qua nhạc đa điệu. Sau khi tung ra 10 bài rong ca với nhan đề Người Tình Già Trên Ðầu Non hay là Hát Cho Năm 2000, Phạm Duy hoàn tất Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ, bài này được khởi soạn từ 1975 và phải đợi 15 năm sau mới hoàn thành. Các trường ca Con Ðường Cái Quan và Mẹ Việt Nam cũng được phóng tác để trở thành nhạc giao hưởng.

Tại 1992 thì Phạm Duy rời lĩnh vực nhạc xã hội để tiến qua nhạc tâm linh với những nhạc phẩm Ðạo Khúc Thiền Ca, Trường Ca Hàn Mặc Tử...

1995 là lúc Phạm Duy đi vào kỹ thuật để thăng tiến nghệ thuật, tức là đi vào lãnh vực Multimedia. Ðĩa CD-Rom đầu tiên của người Việt Nam trên thế giới đã ra đời, mang tựa đề Voyage Through Motherland - Hành Trình Trên Ðất Mẹ (với trường ca Con Ðường Cái Quan là bản nhạc chính), sẽ kéo theo những CD-Rom khác như Of Mother And Legends - Huyền Thoại Mẹ (với khoảng 50 bài hát về Người Mẹ), Huyền Thoại Rồng Tiên (Bầy Chim Bỏ Xứ và Hồi Xứ), Huyền Thoại Kháng Chiến, Huyền Thoại Tình Yêu v.v...

Đỗ Tuấn Hải sưu tầm (DucaVN)